Bề mặt ban đầu (số 1): bề mặt nhám, không bóng, có màu trắng bạc sau khi xử lý nhiệt và ngâm sau khi cán nóng, dùng cho vật liệu cán nguội, bồn chứa công nghiệp, v.v.
Bề mặt xỉn màu (Số 2D): sau khi cán nguội, xử lý nhiệt, ngâm chua và có thể cán nhẹ bằng trục cán ba via, có bề mặt bóng màu trắng bạc và vật liệu mềm, được sử dụng cho quy trình dập kéo sâu.
Mờ (Số 2B): Dựa trên số 2D, bề mặt có độ sáng vừa phải, nhẵn và dễ mài lại bằng quy trình cán mịn, được sử dụng rộng rãi.
Sáng (BA): Sau khi cán nguội và ủ sáng, làm phẳng, bề mặt có độ bóng tuyệt vời, độ phản chiếu cao, như gương.
Cát thô (số 3): Được nghiền bằng đai mài số 100-120, độ bóng tốt, hạt thô không liên tục, dùng để trang trí nội ngoại thất công trình.
Cát mịn (số 4): Được nghiền bằng đai mài số 150-180, có độ bóng tốt, hạt thô không liên tục và mịn hơn số 3, dùng làm vật liệu phòng tắm và trang trí.
Bề mặt hairline (HL): Số 4 được mài mòn liên tục bằng băng đánh bóng có kích thước hạt phù hợp để tạo ra các hoa văn, được chia mịn thành số 150-320, dùng để trang trí kiến trúc, v.v.
Bề mặt gương: thông qua thiết bị đánh bóng và mài sẽ đánh bóng tấm thép không gỉ có bề mặt sáng như gương, thông thường là 6k, 8k, 10k và các mức độ sáng khác nhau.
Bề mặt chải: thông qua ma sát cơ học trên bề mặt thép không gỉ để xử lý hoa văn đường thẳng, theo độ dày khác nhau của hoa văn có thể được chia thành cát chải, cát bông tuyết, cát thông thường.
Bề mặt phun cát: sử dụng chất mài mòn để phun lên bề mặt thép không gỉ, tạo ra bề mặt cát mịn như hạt cát, các điểm phun cát mờ và sáng.
Bề mặt lộn xộn: còn gọi là hạt cát, nhìn từ xa có một vòng tròn hạt cát, gần giống với hoa văn không đều.
Bề mặt nổi: còn được gọi là dập nổi, bề mặt có hình thoi nhỏ, hình khối, hình vuông và các họa tiết khác.
Bề mặt mạ titan: mạ titan trên bề mặt thép không gỉ, thể hiện nhiều màu sắc khác nhau như vàng titan, vàng hồng, xanh đá quý.
Bề mặt khắc: dùng tác nhân hóa học tác động lên bề mặt thép không gỉ để tạo hiệu ứng không đồng đều hoặc tạo chữ, hoa văn.
